Thu kinh phí Công đoàn: Thực trạng và những giải pháp

Ngày đăng: 07/08/2013

Kinh phí công đoàn là nguồn tài chính bảo đảm hoạt động công đoàn, tổ chức đại diện cho người lao động làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp để chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; mặt khác để đảm bảo vai trò của công đoàn trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp; giáo dục, động viên người lao động thực hiện tốt công việc, góp phần ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ quan, đơn vị; làm ra nhiều sản phẩm, bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và phát triển.

Luật công đoàn (sửa đổi) năm 2012 đã quy định tất cả các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế không phân biệt nơi đã thành lập hay chưa thành lập tổ chức công đoàn đều phải có nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Để kịp thời triển khai cho các cấp công đoàn thực hiện, Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam đã ban hành các quyết định, hướng dẫn thực hiện theo Điều 26 của Luật Công đoàn đã sửa đổi, bổ sung về công tác tài chính công đoàn.

Thực hiện Luật CĐ, nguồn thu tài chính công đoàn gồm: Thu đoàn phí công đoàn do đoàn viên đóng góp; thu kinh phí công đoàn do các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng; thu do ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ; thu khác từ hoạt động văn hoá, thể thao, hoạt động kinh tế của công đoàn.... Nhưng nhiệm vụ quan trọng và gặp nhiều khó khăn trong thời điểm hiện nay là thu kinh phí công đoàn 2% theo Luật Công đoàn năm 2012.

Thực trạng về thu kinh phí công đoàn trong những tháng đầu năm 2013

Thực hiện thu kinh phí công đoàn đối với đơn vị hành chính sự nghiệp do ngân sách Nhà nước cấp kinh phí có một số thay đổi. Theo quyết định 170/QĐ-TLĐ ngày 9/1/2013 của Đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đã thống nhất thu kinh phí công đoàn và phân cấp thu cho LĐLĐ tỉnh, thành phố. Căn cứ quyết định này, LĐLĐ Thành phố Hà Nội đã phân cấp cho công đoàn cấp trên trực tiếp của các đơn vị HCSN được thu kinh phí 2% của khu vực hành chính sự nghiệp và sau đó cấp trả lại công đoàn cơ sở theo tỷ lệ đã được phân phối (có bù trừ số thu đoàn phí cơ sở phải nộp lên). Với việc phân cấp như trên, các công đoàn cấp trên cơ sở rất phấn khởi vì sẽ thực hiện việc đối chiếu giữa các đơn nộp kinh phí và nhận kinh phí dễ dàng thuận lợi, kịp thời trong việc cấp kinh phí hoạt động cho công đoàn cơ sở, đồng thời giảm tải nhiều công việc hành chính cho Liên đoàn Lao động Thành phố so với trước khi thực hiện phân cấp khu vực này (LĐLĐ quận, huyện phải chờ đối chiếu với Liên đoàn Lao động Thành phố và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam). Thực hiện thu kinh phí đối với khu vực hành chính sự nghiệp không có nhiều biến động khi thực hiện theo điều 26 Luật Công đoàn năm 2012, vì thu kinh phí 2% trên quỹ lương thực trả (trước năm 2013) và quỹ lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động (bắt đầu từ năm 2013) không có sự chênh lệch nhiều về số tuyệt đối vì quỹ lương khu vực Hành chính sự nghiệp ổn định và được ngân sách nhà nước cấp. Do đó, việc triển khai thu kinh phí 2% ở khu vực hành chính sự nghiệp được thực hiện khá tốt và đã vào nề nếp từ nhiều năm nay.

Thu kinh phí công đoàn đối với đơn vị sự nghiệp không thụ hưởng ngân sách nhà nước và các  doanh nghiệp nhà nước: được phân cấp cho công đoàn cơ sở trực tiếp thu kinh phí công đoàn và có trách nhiệm trích nộp lên công đoàn cấp trên quản lý trực tiếp 35% số thu kinh phí công đoàn. Tuy nhiên từ năm 2013, quỹ lương để tính trích nộp kinh phí công đoàn 2% sẽ bị giảm do tính trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, vì vậy nguồn kinh phí công đoàn 2% khu vực này sẽ giảm nhiều so với năm trước.

Thu kinh phí công đoàn đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Năm 2013 có thay đổi lớn đối với các công đoàn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối với chủ doanh nghiệp, tỷ lệ trích nộp kinh phí công đoàn tăng từ 1% lên 2% so với những năm trước, nhưng trích trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, do đó kinh phí công đoàn khu vực này chưa chắc đã cao hơn năm trước do chênh lệch quỹ lương thực trả và quỹ lương làm căn cứ đóng BHXH cho người lao động. Một nội dung thay đổi nữa mà nhiều công đoàn cơ sở thấy băn khoăn do những năm trước, phần kinh phí công đoàn này được để lại toàn bộ cho cơ sở hoạt động, không phải nộp nghĩa vụ lên công đoàn cấp trên; nhưng từ năm 2013 cũng phải thực hiện nộp nghĩa vụ lên cấp trên theo đúng tỷ lệ như các công đoàn cơ sở ở các khu vực khác. Do đó có nhiều công đoàn cơ sở và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có ý kiến băn khoăn với việc thay đổi này, mà mong muốn có lộ trình tăng dần tỷ lệ trích nộp về công đoàn cấp trên cơ sở, do vậy việc đôn đốc thu kinh phí công đoàn ở khu vực này đang gặp nhiều khó khăn và cần làm tốt công tác tuyền truyền, vận động để chủ doanh nghiệp thực hiện tốt công tác tài chính theo Luật công đoàn.

Thu kinh phí công đoàn đối với các công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, nghiệp đoàn.... Các đơn vị này ở Hà Nội nhìn chung là những đơn vị có số lao động, đoàn viên không lớn. Rất nhiều công đoàn cơ sở chỉ có từ 5 đến 30 đoàn viên. Nhiều công ty thành lập là của gia đình do bố, mẹ, vợ, chồng, con hay cháu cùng nhau chung vốn để kinh doanh; có công ty đã thành lập công đoàn nhưng việc tổ chức hoạt động kinh doanh khó khăn nên chỉ một thời gian ngắn đã dừng hoạt động và ý thức chấp hành pháp luật của chủ doanh nghiệp chưa tốt, nhiều trường hợp có ý trốn tránh trách nhiệm, cố tình không thực hiện việc trích nộp kinh phí cho công đoàn hoạt động. Việc duy trì hoạt động công đoàn ở những đơn vị có dưới 30 đoàn viên rất khó khăn nên việc thực hiện thu kinh phí, đoàn phí công đoàn đối với  khu vực này khá phức tạp và còn thất thu nhiều.

Đối với các đơn vị chưa có tổ chức công đoàn thực hiện nộp kinh phí cho tổ chức công đoàn: Điểm mới đáng chú ý trong Luật sửa đổi lần này là quy định tất cả các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đều có nghĩa vụ trích nộp kinh phí công đoàn bằng 2% quỹ lương làm căn cứ đóng BHXH cho dù cơ quan, tổ chức doanh nghiệp đó đã thành lập được công đoàn cơ sở hay chưa. Tuy nhiên đến thời điểm này, sau 7 tháng Luật Công đoàn có hiệu lực nhưng Nghị định của Chính phủ để hướng dẫn thi hành Luật về công tác tài chính công đoàn vẫn chưa có, đây là một trong những khó khăn cho tổ chức công đoàn khi thực hiện Điều 26 của Luật Công đoàn năm 2012. Do đó, việc tổ chức thu kinh phí công đoàn đối với các đơn vị chưa có tổ chức công đoàn mặc dù đã triển khai tuyên truyền, vận động nhưng chưa có kết quả.

Giải pháp nhằm thực hiện thu kinh phí công đoàn trong thời gian tới

Nhằm góp phần thực hiện tốt công tác thu kinh phí công đoàn trong thời gian tới, các cấp công đoàn cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Có nhiều biện pháp tập trung tuyên truyền, phổ biến, tập huấn những chính sách, quy định mới của Nhà nước, Tổng LĐLĐ Việt Nam về công tác thu tài chính công đoàn.

Đối với các đơn vị chưa thành lập tổ chức công đoàn, các công đoàn cấp trên cơ sở được giao nhiệm vụ thu kinh phí công đoàn cần xây dựng Kế hoạch cụ thể để tiếp cận, nắm chắc tên, địa chỉ, số lượng lao động những đơn vị này để tuyên truyền, phổ biến quy định trích nộp kinh phí công đoàn 2% bằng cách: in sao các văn bản, tờ rơi liên quan đến thu kinh phí công đoàn để tuyên truyền đến từng doanh nghiệp; tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác tài chính công đoàn có sự phối kết hợp với chính quyền địa phương trên địa bàn để nâng cao tính thuyết phục đối với việc thực hiện chính sách pháp luật hoặc thành lập đoàn khảo sát liên ngành kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có lồng ghép việc tuyên truyền, phổ biến trích nộp kinh phí 2% cho công đoàn…

Tăng cường chất lượng đội ngũ kế toán cũng như cán bộ cơ quan công đoàn quận, huyện, coi trọng việc bồi dưỡng về kỹ năng giao tiếp, ứng xử, chia sẻ kinh nghiệm nhằm hỗ trợ và giúp họ tự tin trong thực hiện nhiệm vụ, trong đó có việc đôn đốc trích nộp kinh phí công đoàn. Bổ sung nguồn nhân lực làm công các tài chính cho những công đoàn cấp trên cơ sở có nhiều đầu mối thực hiện đóng kinh phí công đoàn

Phân công, phân nhiệm cho từng cán bộ chuyên trách công đoàn thực hiện theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo toàn diện hoạt động công đoàn cơ sở, trong đó có công tác thu kinh phí công đoàn theo khu vực hay theo địa bàn để thuận lợi cho việc quản lý. Định kỳ họp giao ban để thông tin, báo cáo những khó khăn, vướng mắc trong quá trình theo dõi để Lãnh đạo có biện pháp giải quyết kịp thời.

Tăng cường công tác phối hợp với các ngành Lao động thương binh xã hội, Cơ quan thuế, kho bạc, bảo hiểm xã hội, thống kê, kế hoạch đầu tư để có những thông tin và số liệu chính xác về đơn vị và quỹ lương đóng bảo hiểm xã hội… trên địa bàn làm cơ sở đôn đốc thu kinh phí công đoàn.

Thực hiện thường xuyên, nghiêm túc công tác kiểm tra tài chính công đoàn nhằm đảm bảo nguyên tắc quản lý tài chính công đoàn, tính minh bạch, công khai dân chủ trong thu - chi tài chính công đoàn. Qua đó chấn chỉnh, đôn đốc các đơn vị thực hiện chưa tốt, truy thu số kinh phí nộp còn thiếu để từng bước đưa những đơn vị hoạt động chưa tốt vào nề nếp.

Kịp thời khen thưởng động viên, khuyến khích những đơn vị, công đoàn cơ sở, LĐLĐ quận, huyện, ngành, những tập thể, cá nhân có nhiều cố gắng đạt thành tích trong việc thu kinh phí công đoàn, đặc biệt đối với khu vực ngoài Nhà nước và  khu vực chưa có tổ chức công đoàn.

Xuất phát từ tình hình thực trạng và kết quả triển khai công tác tài chính theo Luật Công đoàn năm 2012, Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội mong muốn Chính phủ sớm ban hành Nghị định hướng dẫn và xử lý đối với những đơn vị không chấp hành hành trích, nộp kinh phí cho tổ chức công đoàn theo Luật Công đoàn. Tổng Liên đoàn LĐVN quan tâm và tạo điều kiện cho Liên đoàn Lao động các tỉnh, thành phố về việc tăng biên chế làm công tác tài chính công đoàn, có chính sách khen thưởng phù hợp, động viên kịp thời những cá nhân, đơn vị làm tốt công tác thu kinh phí công đoàn.

Bùi Thu Thủy

 
  • Chia sẻ trên

Xem nhiều nhất:

LĐLĐ quận Hoàn Kiếm: Hội nghị Ban chấp hành kỳ họp thứ 13

Thu kinh phí Công đoàn: Thực trạng và những giải pháp

Tổng kết Chương trình Phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS giai đoạn 2008 – 2013

Các tin khác